HUIFANGWENPAN's blog
- 150 posts
- 1 friends
- 2 comments
-
Người nhận lãnh trách nhiệm hạ sát anh em ông Ngô Đình Diệm , Ngô Đình Nhu
Từ tháng 7 năm 1963 đã có những tin đồn về việc sắp xảy ra đảo chính . Để đối phó , chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra lệnh thuyên chuyển các tướng lãnh tư lệnh các Vùng Chiến Thuật. Tướng Tôn Thất Đính từ Vùng II chuyển về Vùng III . Tướng Huỳnh Văn Cao đưc đưa về Vùng IV . Tướng Nguyễn Khánh được đưa ra II , tướng Đỗ Cao Trí được đưa ra Vùng I . Những tướng bị nghi ngờ thì được triệu về Sài Gòn giữ những chức vụ không có quân trong tay . Tướng Trần Văn Đôn làm cố vấn quân sự cho Phủ Tổng Thống . Hai lực lượng hùng hậu nhất mà chính quyền tin cậy là Lực lượng Đặc biệt do trung tá Lê Quang Tung làm tư lệnh và Lữ đoàn Liên minh Phòng vệ Phủ Tổng thống do trung tá Nguyễn Ngọc Khôi làm tư lệnh, được bố phòng chặt chẽ nhằm sẵn sàng đối phó .
Chuẩn bị
Chuẩn bị cho cuộc đảo chính các tướng lĩnh tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với chính phủ Ngô Đình Diệm đi hành quân ở những vùng xa Sài Gòn để không ứng cứu khi đảo chính xảy ra . Ngày 29 tháng 10 , để vô hiệu hóa Lực lượng Đặc biệt ( lực lượng thiện chiến và trung thành với chế độ ) , tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III ( và cũng là Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định ) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng này di chuyển ra khỏi Sài Gòn , truy quét cộng sản ở vùng Hố Bò , Củ Chi . Sáng ngày 31 tháng 10 năm 1963 , tướng Tôn Thất Đính hạ lệnh cấm trại toàn thể quân đoàn Vùng III Chiến Thuật và cử đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị tới bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản đường về thủ đô của bất cứ đơn vị nào của quân đoàn Vùng IV Chiến Thuật . Chiều 31 tháng 10 năm 1963 , đại tá Nguyễn Văn Thiệu Sư trưởng Sư đoàn 5 đã dẫn hai trung đoàn dưới quyền cùng một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp mượn cớ đi hành quân ở Phước Tuy nhưng lại dừng chân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa và QL15 đi Vũng Tàu.
Như vậy các tướng lãnh đã chặn ba nẻo chính có thể tiến quân về thủ đô : con đường từ Lục Tỉnh về thì do đại tá Nguyễn Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm . Con đường miền Tây có thiếu tướng Mai Hữu Xuân với quân lực Trung tâm Huấn luyện Quang Trung án ngữ . Con đường từ miền Bắc có đại tá Vĩnh Lộc với chiến đoàn Vạn Kiếp án ngữ .
Khởi động
Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1963 , được lệnh của các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính loại bỏ Hồ Tấn Quyền khỏi vai trò chỉ huy binh chủng hải quân , Thiếu tá Trương Ngọc Lực , Chỉ huy trưởng Vùng III Sông Ngòi ( dư luận đánh giá là một người hiếu sát ) và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang , Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung Phong , kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang Vận đã lừa Hồ Tấn Quyền ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su . Cũng trong sáng ngày 1 tháng 11 trung tướng Trần Văn Đôn triệu tập các cấp chỉ huy của một các đơn vị quân đội đồn trú tại Sài Gòn và các vùng phụ cận mà ông nghi ngờ trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm về cầm chân ở Bộ Tổng tham mưu . ( Khi trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống đến họp ở Bộ Tổng tham mưu thì ông bị còng tay với nhiều sĩ quan cao cấp khác[28] như trung tá Nguyễn Văn Thiện , Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp và Đại Tá Trần Văn Trung , Tùy viên Quân sự ở Pháp mới về nuớc... )
1h30 trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963 , điệp viên CIA Lucien Emile Conein vào bộ Tổng Tham mưu , mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam . ( Theo Việt Nam nhân chứng của Trần Văn Đôn thì số tiền này được chia cho Dương Văn Minh , Lê Văn Kim , Tôn Thất Đính , Nguyễn Hữu Có , Đổ Cao Trí , Nguyễn Khánh , Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang ) . Cũng tại đây , vào thời điểm này tướng Dương Văn Minh đề nghi tất cả tướng lãnh tham dự vào cuộc đảo chính. Hầu hết các tướng lĩnh đều hưởng ứng trừ đại tá Cao Văn Viên , chỉ huy trưởng Lữ đoàn dù và Đại tá Lê Quang Tung , tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân là phản đối . Đại tá Tung đã hét to : " Hãy nhớ ai đã gắn sao cho tụi bay " . Các ông bị bắt ngay sau đó và bị đại úy Nguyễn Văn Nhung sĩ quan tùy viên của tướng Dương Văn Minh đưa sang tạm giam trong phòng “ cô lập các sĩ quan chống đối “ . ( Đêm đó, Nguyễn Văn Nhung đem đại tá Tung và em trai là thiếu tá Lê Quang Triệu, tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt ra nghĩa trang Bắc Việt Tương tế ở sau Bộ Tổng tham mưu trại giết chết cả hai anh em )
Tại Vùng IV Chiến thuật , tướng Huỳnh Văn Cao lúc đầu nhất định không theo đảo chánh . Ông đã cố gắng để liên lạc với đại tá Bùi Dzinh Tư lệnh sư đoàn 9 đóng ở Sa Đéc và đại tá Bùi đình Đạm Tư lệnh Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho đem quân về , nhưng sư đoàn 7 thì bị đại tá Nguyễn Hữu Có đem công điện của trung tướng Đôn về đoạt quyền tư lệnh của đại tá Đạm . Kế tiếp ông Có đã đem quân Sư đoàn 7 ra chặn ở ngã ba Trung Lương và cho rút hết các chiếc phà Mỹ Thuận để ngăn chặn Sư đoàn 9 vượt sông Tiền giang .
Lúc 12 giờ 10' , tại dinh Gia Long , khi Tổng thống Ngô Đình Diệm được tin báo về cuộc đảo chính ông và cố vấn Ngô Đình Nhu di chuyển xuống hầm bí mật đào dưới dinh Gia Long. Hầm này có phòng ngủ, phòng tắm và phòng khách cho tổng thống và cố vấn , và có địa đạo dẫn ra ngoài dinh. Tại đây ông ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với các tướng Trần Thiện Khiêm , Tôn Thất Đính yêu cầu đến cứu ứng .
Cao điểm
Vào 1 giờ 30 chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963 , Mai Hữu Xuân chế ngự được đơn vị của Lực Lượng Đặc Biệt đóng tại Tân Sơn Nhất, đồng thời tướng Xuân cũng đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả đường tiến vào Sài Gòn. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền Tư lệnh Không quân ( đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân đang bị giam tại Bộ Tổng tham mưu ) cho phi cơ phóng pháo bay lượn trên không phận Sài Gòn để uy hiếp các lực lượng chống đảo chính . Thiếu tá Nguyễn Bá Liên ( cháu của Đại tá Đỗ Mậu , Giám đốc Nha An ninh quân đội ) , Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ra lệnh cho hai tiểu đoàn dưới quyền vờ đi hành quân ở núi Thị Vải, Bà Rịa rồi bất ngờ chuyển hướng về Sài Gòn chiếm Tổng nha Cảnh sát , Bộ Nội vụ , Nha Truyền tin . Quân đảo chính do đại tá Phạm Ngọc Thảo sau hai lần tấn công đã chiếm được Đài Phát thanh Sài Gòn . Sau khi chiếm Đài Phát thanh , quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có trong danh sách này ngoại trừ: tư lệnh các Quân đoàn II , Quân đoàn I và Quân đoàn IV . Quân đảo chính cũng phát lời hiệu triệu đại ý gồm có lời tuyên bố lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ , lời kêu gọi ông Diệm đầu hàng, lời hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết làm hậu thuẫn cho cuộc đảo chính . Được sự đồng ý của tổng thống Ngô Đình Diệm Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống cử một đại đội có thiết giáp yểm trợ, để tái chiếm Đài Phát thanh, nhưng nỗ lực này không thành công . Trong thành Cộng Hòa, Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ dùng đại bác và đại liên chống trả cho đến rạng sáng ngày 2 tháng 11 thì lực lượng này buông súng theo lệnh của tổng thống Diệm , để đại tá Nguyễn Văn Thiệu đem một trung đội vào tiếp thu .
Sáng hôm sau , các lực lượng trung thành của họ Ngô đã sụp đổ , Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chạy thoát khỏi Dinh Độc Lập qua một đường hầm bí mật và trốn ở một ngôi nhà tại Chợ Lớn . Anh em họ Ngô đồng ý đầu hàng và đã được Trần Văn Đôn hứa cho đi khỏi đất nước một cách an toàn . Nguyễn Văn Nhung tham gia vào một toán sỹ quan dẫn đầu một số quân đến nơi trú ẩn của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại Nhà thờ St. Francis được xây thời Pháp và bắt giữ anh em họ .
Về người ra lệnh giết hai anh em Ngô Đình Diệm
Theo tài liệu " JFK and the Diem Coup " của tiến sĩ John Prados xuất bản vào tháng 11 năm 2003 , dựa trên các đoạn băng ghi âm ( kể cả các buổi họp bí mật tại Tòa Bạch Ốc ) , các công điện trong và sau thời gian xảy ra cuộc đảo chánh thì chính phủ Hoa Kỳ có ý muốn tìm người thay thế ông Diệm , chứ không hề có ý định sát hại hai ông Diệm , Nhu .
8 giờ 30 sáng ngày 2 tháng 11 tại cuộc họp thu hẹp giữa một số tướng lãnh tại Bộ Tổng tham mưu , trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ đã xui tướng Dương Văn Minh : " Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc " . Điệp viên CIA Lucien Emile Conein , người đuợc cho rằng đã giật dây cuộc đảo chính này , khi hay tin ông Diệm và ông Nhu ra khỏi dinh Gia Long , Luien Conein đã hỏi : " Hai ông ấy đi đâu ? . Phải bắt cho kỳ được vì rất quan trọng ? " . Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp : " On ne fait pas d ? omelette sans casser les oeuf ? ( Người ta không thể làm trứng rán mà không đập bể những cái trứng ) " .
Theo hồi ký Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Hoành Linh Đổ Mậu thì sáng ngày 2 tháng 11 , tại Bộ Tổng tham mưu đã có một cuộc bàn luận giữa các tướng lãnh tham hia đảo chính, về cách đối xử với ông Diệm , nên giết hay nên cho xuất ngoại . Và Đỗ Mậu là người duy nhất không tán đồng giết hai anh em nhà Ngô .
Theo hồi ký " Việt Nam một trời tâm sự " của tướng Nguyễn Chánh Thi thì khi chiếc thiết vận xa rời nhà thờ Cha Tam chạy chừng 500 m thì gặp tướng Thu ( thật ra là tướng Mai Hữu Xuân ) đưa lên một ngón tay trỏ , nhóm Nguyễn văn Nhung trên M113 đoán rằng ông ta ra lệnh giết một trong hai anh em Tổng thống Diệm , nhưng chưa biết phải giết người nào thì lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay ( ngón trỏ và ngón giữa ) của bàn tay trái , với hai ngón khép lại với nhau , chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên . Họ nghĩ rằng ông ra lệnh giết cả hai anh em Ngô Đình Diệm .
Theo cuốn The Vietnam War, Day by Day ( tạm dịch: Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày ) do John S. Bowman chủ biên thì hai người trực tiếp giết hại ông Diệm và Nhu là thiếu ta Dương Hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung , theo lệnh của trung tướng Dương Văn Minh , lúc đó đứng đầu phe đảo chính .
Sau cuộc bắt giữ , Nguyễn Văn Nhung và thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi chung với anh em Ngô Đình Diệm trong chiếc thiết vận xa và đoàn xe này đã quay lại Sài Gòn . Đoàn xe dừng lại tại một điểm giao cắt với đường sắt và theo ý kiến chung thì anh em họ Ngô đã bị giết chết trước đó. Một cuộc điều tra của Trần Văn Đôn đã xác định rằng Dương Hữu Nghĩa đã bắn anh em họ Ngô bằng một phát đạn bắn thẳng ( tiếng Anh: point-blank range ) bằng một khẩu súng bán tự động (Semi-automatic firearm) và rằng Nguyễn Văn Nhung đã bắn hàng loạt đạn khắp thân thể hai anh em Ngô Đình Diệm và đâm nhiều nhát dao vào thân thể hai anh em họ Ngô .
Trần Văn Đôn và và nhiều sỹ quan khác kinh ngạc khi thấy xác hai anh em Ngô Đình Diệm tại sở chỉ huy . Trần Văn Đôn gặp Dương Văn Minh trong văn phòng của tướng Minh và trong lúc họ đang cãi nhau , Mai Hữu Xuân đi vào phòng . Không hay biết Trần Văn Đôn đang ở đó , Mai Hữu Xuân ngắt lời và đứng nghiêm và báo cáo " Mission accomplie " ( nhiệm vụ đã hoàn thành ).
Ai ra lệnh giết anh em ông Ngô Đình Diệm ? . Ai cầm súng hạ sát hai ông ấy ? . Từ trước đến nay dư luận đều đổ vào cho hai người đó là tướng Dương Văn Minh và Đại úy Nguyễn Văn Nhung . Về tướng Dương Văn Minh có nhiều tài liệu đã viết . Còn chuyện đại úy quân đội Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Nhung sống chết như thế nào thì chưa được nhiều người biết đến .
Và nhiều người nhận định là đại úy Nhung ( sỹ quan cận vệ của tướng Dương Văn Minh ) không thể nào dám hạ sát hai ông Nhu , Diệm nếu không có lệnh của tướng Minh
Đảo chánh lật đổ chế độ Diệm chưa đầy 100 ngày thì các tướng Trần Thiện Khiêm , tướng Nguyễn Khánh và Đại tá Nguyễn Chánh Thi làm cuộc “ chỉnh lý 30/1/1964 ” . Để “ trả thù cho ông Cụ ” ( cụm từ của tướng Nguyễn Khánh nói với bà Trần Trung Dung - cháu gọi ông Diệm bằng cậu ) , những người làm “ chỉnh lý ” bắt ngay Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung ( Nhung mới lên Thiếu tá từ sau ngày đảo chánh 1/11/1963 ) .
Nguyễn Văn Nhung
Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung là một sỹ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là cận vệ của tướng Dương Văn Minh , ông nổi tiếng vì có vai trò trong cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963 . Trong cuộc đảo chính này , Nguyễn Văn Nhung được cho rằng là người đã giết chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu , cũng như đại tá Lê Quang Tung , chỉ huy trưởng Lực lượng đặc biệt ( lực lượng trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm ) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa .
Theo cuốn " Assassin in our Time " ( Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta ) xuất bản năm 1976 ở Mỹ , ở trên chiếc thiết vận xa M113, hai anh em tổng thống Diệm bị trói tay quặt ra sau lưng . Tổng thống Diệm do bị sốc nặng nên đã ngồi im . Bất ngờ , Đại uý Nguyễn Văn Nhung rút dao găm ra đâm ông cố vấn Nhu 15-20 phát . Rồi rút súng Colt ra bắn vào gáy tổng thông Diệm . Thấy ông Nhu vẫn chưa chết hẳn , Đại uý Nhung đã bắn thêm vào đầu ông ta...
Ngày 17/2/64 , sĩ quan Báo chí Bộ quốc phòng của tướng Nguyễn Khánh chính thức tiết lộ : “ Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung , sỹ quan tổng quát và tùy viên của Trung tướng Dương Văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30/1 và giam tại Lữ đoàn nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám , ông Nhung tự vẫn bằng dây giày ” .
Tuy nhiên có dư luận cho rằng tướng Nguyễn Chánh Thi đã tham gia vào việc đánh đập tra tấn Nguyễn Văn Nhung cho đến chết . Bà Huỳnh Thị Nhi vợ Nguyễn Văn Nhung cho biết khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím , có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô . Có lẽ Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người . Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn , từ số 140 ngày 1/10/70 đến số 160 thì Thiếu tá Nhung đã “ bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Diệm . Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh ” .
Là một trong những người lãnh đạo cuộc “ chỉnh lý 30/1/1964 ” , ông Nguyễn Chánh Thi đã kể lại chuyện này trong hồi ký như sau :
" Trời sáng rõ. Các cánh quân bắt đầu đem về Bộ chỉ huy đảo chánh ( “ chỉnh lý ” ) những người mà họ cho là không ít thì nhiều “ có tội với đất nước ” ( Sau này ông Khánh đã đặt ra những tội “ trung lập ” và “ thân Cộng ” gán cho họ ) .
Trong số này tôi ( Nguyễn Chánh Thi ) thấy có Thiếu tá Nhung , viên sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh " .
Thiếu tá Nhung được lệnh phải làm một bản tường trình về việc “ tại sao , và bằng cách nào , đã quyết định giết chết ông Nhu và ông Diệm ”. Thiếu tá Nhung khai hoàn toàn không biết gì về quyết định của Hội đồng Quân nhân Cách mạng cả. Ông ta đã thuật lại việc giết hai ông Diệm Nhu như sau :
“ Tôi ( Nhung ) được lệnh đi theo đoàn thiết giáp lên đón hai ông Diệm Nhu , sau khi được tin hai ông này từ một nhà thờ ở Chợ Lớn gọi điện thoại xin đầu hàng . Đoàn thiết giáp do Trung tá Nghĩa chỉ huy . Có một số sĩ quan ở Bộ Tổng tham mưu đi theo , trong đó có Thiếu tá Đày . Trách nhiệm tổng quát chỉ huy vụ này là ông Thiếu tướng Thu (?) .
Đoàn thiết giáp lên đến ngôi nhà thờ Chợ Lớn thì hai anh em ông Diệm ngoan ngoãn lên xe ( xe M113 thiết giáp). Xe chạy về ngả Sài Gòn . Đi được chừng 500 thước thì từ phía Sài Gòn chạy ngược lên một đoàn mấy cái xe jeep , trên đó có Thiếu tướng Thu . Khi hai đoàn xe gặp nhau , đậu cách nhau chừng 30 thước, Thiếu tướng Thu và đoàn tùy tùng xuống xe. Lúc đó bên đoàn thiết giáp có ý chờ đợi ông Thiếu tướng Thu cho lệnh về việc xử trí với hai anh em ông Diệm như thế nào .
Từ đằng xa họ thấy tướng Thu đưa lên một ngón tay trỏ. Bên đoàn xe thiết giáp dự đoán rằng ông ta ra lệnh giết một trong hai anh em ông Diệm . Họ còn đang ú ớ muốn hỏi lại cho rõ , xem phải giết người nào, thì đồng bào ùa đến xem quá đông . Bên đoàn xe thiết giáp bắt đầu lo ngại về an ninh của hai anh em ông Diệm cũng như về an ninh của chính họ ( Họ nghĩ rằng dư đảng Cần Lao có thể trà trộn giải vây cho anh em ông Diệm , hoặc dân chúng phẫn uất có thể giết chết hai ông này ) .
Họ muốn chạy băng qua để hỏi lệnh cho rõ , nhưng dân chúng vây chặt , không thể nào đi được . Khi đó lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái , với hai ngón khép lại với nhau , chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên. Họ nghĩ rằng ông ra lệnh bắn cả hai anh em ông Diệm .
Tôi ( Thiếu tá Nhung ) rút khẩu súng colt 12 , bắn mỗi người 5 phát . Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực . Đồng thời đoàn xe thiết giáp được lệnh dẹp đường chạy về Bộ Tổng tham mưu . Cùng lúc , tướng Thu cũng cho đoàn xe quay đầu chạy trước đoàn xe thiết giáp cùng hướng về Bộ Tổng tham mưu . Trong lúc xe chạy thì Thiếu tá Đày cúi xuống lấy cái cặp của ông Diệm nói là sẽ đem về trình Hội đồng Quân nhân Cách mạng . Dường như trong cặp ấy có nhiều đồ vật, tài liệu quý giá ” .
Cuối tờ khai, Thiếu tá Nhung kết luận :
“ Tôi chỉ vì hăng say theo lệnh cấp trên mà đã làm như thế ” .
Nội trong đêm , sau khi làm tờ khai , Thiếu tá Nhung trong phòng tạm giam ở Bộ Tổng tham mưu , đã lấy dây giày của mình thắt cổ tự sát .
" Tôi - Nguyễn Chánh Thi - được tin , không khỏi ngậm ngùi cho số kiếp của một sĩ quan trung thành với cấp trên , không lường được hậu quả to lớn của việc mình làm , không có ý thức chính trị hướng dẫn , đến khi một mình chịu tội , một mình thác oan... " ( Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một trời tâm sự, Nxb Anh Thư, California (USD) 1987, tr. 230-1 ) .
Đoạn trích trên đây có lời tự thuật của Thiếu tá Nhung - người được xem là xạ thủ đã giết chết anh em ông Ngô Đình Diệm . Không rõ ông Thi ghi lại bản tự thuật đó có trung thực hay không , vì sau lần tự thuật đó Thiếu tá Nhung không còn ở trên đời nên không thể kiểm chứng được . Giả như bản tự thuật đó trung thực thì ta thấy thiếu tá Nhung vào giờ phút nguy nan nhất vẫn rất bình tĩnh :
1. Nhận hết trách nhiệm về việc hạ sát anh em ông Ngô Đình Diệm ;
2. Khẳng định “ không biết gì về quyết định của Hội đồng Quân nhân Cách mạng ” để tránh những rắc rối đối với tướng Dương Văn Minh . Tất cả những người có liên quan đến vụ đi bắt và giết anh em ông Diệm đều được khai với những cái tên hoàn toàn không có trong thực tế , về cấp bậc và nhiệm vụ cũng sai để những người này khỏi bị nêu tên thật trong bất cứ hoàn cảnh nào ( Ví dụ Nhung khai ) :
- Trung tá Nghĩa chỉ huy đoàn thiết giáp ( sự thực là Đại úy Dương Hòa Hiệp ).
- Thiếu tá Đày sĩ quan ở Bộ Tổng tham mưu đi theo ( trong đoàn không có ai tên là Đày cả , chỉ có Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa ( lúc đi bắt ông Diệm, Nghĩa mới đeo lon Đại úy ) ; theo Nhung Thiếu tá Đày là người “ lấy cái cặp của ông Diệm nói là sẽ đem về trình Hội đồng Quân nhân Cách mạng ” .
- Thiếu tướng Thu trách nhiệm tổng quát chỉ huy vụ này ( sự thực trong Hội đồng tướng lãnh tham gia đảo chánh ) không có ai tên là Thu cả mà là Thiếu tướng Mai Hữu Xuân - người được tướng Dương Văn Minh cử đi theo dõi đoàn xe “ rước anh em Tổng thống Diệm ” .
Dương Hiếu Nghĩa
Trong cuốn " Nam Việt-Nam 1954-1975 : Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới " , các tác giả đã buộc tội thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát tổng - thống .
Theo cuốn " A Death in November " ( Cái chết vào tháng mười một ) của tác giả Ellen J. Hammer viết trong khi chiếc thiết vận xa M113 dừng lại ở trước đường xe lửa trên đường Hồng Thập Tự ( đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay ), Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa đứng trên cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai anh em tổng thống Diệm . Rồi Đại úy Nhung rút súng Colt ra bắn thêm mấy phát vào đầu tổng thống Diệm và cố vấn Nhu , sau đó tiếp tục rút dao găm đâm nhiều nhát vào ngực hai ông . Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận việc giết hai ông và nói rằng mình không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó . Và thiếu tá Nghĩa cũng lý luận rằng nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu người ta cũng giết ông như giết Nguyễn văn Nhung rồi . Nhưng nhiều người vẫn tin lời tường thuật của bà Ellen J. Hammer vì thiếu ta Dương Hiếu Nghĩa là một Đảng viên Đảng Đại Việt ( Đảng Đại Việt vốn có thâm thù với chính quyền Ngô Đình Diệm ) và sau này khi ngồi ghế Phụ thẩm Quân nhân của Tòa án Cách mạng , đã tham gia xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn .
Trong chương CUỘC ĐẢO CHÁNH 1-11-1963 của cuốn Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì nhiều nhân chứng đã thấy Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa lau bàn tay vấy máu trước khi vào báo cáo với tướng Dương Văn Minh .
Đại úy Đỗ Thọ , sỹ quan tùy viên của tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đặt vấn đề : " Đáng ra trong hồ sơ khẩu cung sau ngày chỉnh lý 30/1/1964, Thiếu tá Nhung phải khai thêm một sĩ quan đồng lỏa tên Nghĩa (Dương Hiếu Nghĩa) nữa, nhưng không hiểu tại sao Thiếu tá Nhung lại không tiết lộ " .
Sau ngày chỉnh lý 30/1/1964 , có dư luận cho rằng tướng Thi đã tham gia vào việc đánh đập tra tấn Nguyễn Văn Nhung đến chết . Trong hồi ký , tướng Nguyễn Chánh Thi cho biết : “ sau khi làm tờ khai , Thiếu tá Nhung trong phòng tạm giam ở Bộ Tổng tham mưu, đã lấy dây giày của mình thắt cổ tự sát ” . Và tướng Thi tỏ ra ngậm ngùi thương tiếc : “ Tôi được tin , không khỏi ngậm ngùi cho số kiếp của một sĩ quan trung thành với cấp trên, không lường được hậu quả to lớn của việc mình làm, không có ý thức chính trị hướng dẫn , đến khi một mình chịu tội một mình thác oan ” .
Tôi ( NĐX ) không nghĩ tướng Thi cố ý viết đoạn hồi ký này để đính chính dư luận nghi ngờ ông đã tham gia vào việc tra khảo Nguyễn Văn Nhung . Vì thế tôi đã tìm gặp bà Huỳnh Thị Nhi, vợ góa của Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung sống với gia đình ở quận 8 , TP.HCM .
Bà quả phụ Huỳnh Thị Nhi cho biết :" khi được báo tin chồng chết , bà đến nhận xác chồng ở bệnh viện Cộng Hòa, nhưng các bác sĩ pháp y không ai dám xác nhận chồng bà đã chết bằng cách gì. Ngay cả bác sĩ Nicola Võ Minh Kỵ làm giám đốc bệnh viện Cộng Hòa có bà con với gia đình bà cũng đóng cửa phòng để tránh việc phải xác nhận về cách chết của Nguyễn Văn Nhung . Nếu ông Nhung tự tử bằng dây giày thì việc xác nhận có gì khó khăn đâu để những người có trách nhiệm trong pháp y sợ hãi phải từ chối né tránh đến vậy ? " .
Bà Huỳnh Thị Nhi cho biết khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím , có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô . Có lẽ Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người nên các bác sĩ pháp y không dám xác nhận chăng ? . Bà Nhi khẳng định chồng bà bị tra khảo mà chết chứ không phải tự sát bằng dây giày như tướng Thi đã viết .
Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn , từ số 140 ngày 1/10/70 đến số 160 thì Thiếu tá Nhung đã “ bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Diệm. Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh ” .
Cái chết của hai anh em ông Ngô Đình Diệm như thế nào , báo Hồn Việt số 1 ( tháng 7/2007 ) đã đề cập và cái chết của Nguyễn Văn Nhung - người bị dư luận quy kết là thủ phạm đã gây ra hai cái chết trên chưa được làm rõ . Nguyễn Văn Nhung bị “ ép cung ” đã phải viết ra bản “ cung khai ” nêu trên chứng tỏ dư luận qui kết cho Nhung là có cơ sở . Bản “ cung khai ” do kẻ thù của Nhung công bố giúp cho những người quan tâm lịch sử thấy được bản chất “ anh hùng hảo hớn ” của Nhung .
Nguyễn Văn Nhung không phải là một người tầm thường . Người nói đúng được bản chất của Nhung không ai khác là chính Đại úy Đỗ Thọ - người đối đầu số một của Nhung trước giờ anh em ông Ngô Đình Diệm bị bắt lên xe thiết giáp M113 trước nhà thờ Cha Tam p.73 Chợ Lớn . Sau khi nghe Nguyễn Văn Nhung bị bắt và bị giết để trả thù cho anh em ông Ngô Đình Diệm , Đỗ Thọ viết trong nhật ký :
“ … Đối với tôi, Thiếu tá Nhung nổ súng vào đầu Tổng thống Ngô Đình Diệm phải vất vả lắm. Thiếu tá Nhung phải can đảm lắm mới dám bắn như thế...
Thiếu tá Nhung còn là người “ chịu cam số phận ” . Đáng ra trong hồ sơ khẩu cung sau ngày chỉnh lý 30/1/64 , Thiếu tá Nhung phải khai thêm một sĩ quan đồng lõa tên Nghĩa nữa , nhưng không hiểu tại sao Thiếu tá Nhung lại không tiết lộ . Phải chăng vị sĩ quan cận vệ của tướng Dương Văn Minh là một anh hùng vì bạn bè . Dù sao một sĩ quan trung thành như thế cũng đáng trọng vậy ” . ( Đỗ Thọ, Nhật ký, NXB Đồng Nai, SG. 1970, tr. 331 ) .
Hậu quả
Tuy nhiên , sau cuộc đảo chính tình hình chính trường Sài Gòn không được như chính quyền Washington mong muốn . Trong vòng 4 năm kể từ biến cố 1-11-1963 cho đến khi thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa ngày 1-11-1967 , Miền Nam đã trải qua 4 chính phủ : Chính phủ Nguyễn Khánh (quân nhân) , Chính Phủ Trần Văn Hương (độc lập) , chính phủ Phan Huy Quát (Đại Việt) , chính phủ Nguyễn Cao Kỳ (quân nhân) .
Người kế nhiệm John F. Kennedy, tổng thống Lyndon B. Johnson (1963 - 1969) than thở :
" They started on me with Diem. He was corrupt and he ought to be killed. So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him. Now, we’ve really had no political stability [in South Vietnam] since then " .( Lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta.... Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị từ lúc đó ... )
Lyndon B. Johnson
Trên nhật báo Công Luận số đặc biệt ngày 1-11-1970 cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn linh hồn của biến cố 1963 đã lên tiếng qua bài “ Những cơ hội đã mất ”.
" ...Những người của ngày 1-11-1963 đã thành công trong đảo chính, nhưng đã thất bại trong việc cầm quyền. Bị đặt trước những nhiệm vụ mới và lớn lao, lại không có kinh nghiệm cầm quyền, họ bị tình thế xô đẩy và tràn ngập trong các vấn đề phải giải quyết " .
" Ngày 1-11-1963 rút lại chỉ còn là một ngày đảo chính mở ra một giai đoạn lịch sử đầy hỗn loạn với bao nhiêu là bấp bênh : hết chỉnh lý lại đến đảo chánh, quyền hành chuyển từ tay nọ qua tay kia và xã hội càng ngày càng thiếu ổn định .
Trong khi đó thì Cộng Sản không ngừng phát triển chiến tranh... " .
Linh mục Cao Văn Luận tác giả hồi ký Bên Giòng Lịch-Sử Việt Nam , 1940 - 1975 nhận xét : " Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam . Những hỗn loạn chính-trị , những thất bại quân sự sau ngày 1-11-1963 đã trả lời cho câu hỏi đó " .
tags:posted 2011-08-13 in blog 252 views add comment -
Nghĩ về hình tượng Lê Văn Tám
Tạp chí Xưa & Nay số 154 (202) - XII - 2003, bài Đọc hồi ký Dương Quang Đông trọn đời tận trung với Đảng tận hiếu với dân của Nguyễn Quế Lâm , trang 9 , có đoạn viết :
"Vụ đốt kho đạn Thi Nghè ngày 1.1.1946 bao nhiêu năm nay quy về một huyền thoại Lê Văn Tám . Nhưng về phương diện khoa học , huyền thoại này không đứng vững được . Và chúng ta cứ chấp nhận như thế mà lưu truyền như là một hình tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng . Nay bác Năm Đông đưa ra một tư liệu khác . Tổ đánh mìn kho đạn Thị Nghè là công nhân nhà máy đèn Chợ Quán gồm có Ka Kim , Kỷ và Nỉ . Ka Kim là chỉ huy . Kỷ và Nỉ dùng thuyền nhỏ chở mìn chờ lúc con nước ròng đưa thuyền chở mìn và hai người chui qua ống cống thoát nước . Vì lính gác chặt chẽ nên hai anh tiến hành công việc đặt mìn rất chậm . Khi đặt xong đến giờ điểm hỏa thì con nước đã lớn , ống cống ngập lút không ra được . Giờ điểm hỏa phá tung kho đạn Thị Nghè cũng là giờ phút hy sinh của hai công nhân nhà máy điện Chợ Quán ” .
Tôi xin có một vài ý kiến nhỏ , rất mong được các bạn đọc góp thêm, để tìm đúng sự thật .
Có nhiều bài báo , có cả sách viết về Lê Văn Tám . Rất nhiều tỉnh , thành phố trong cả nước có nào là tượng đài , công viên , đường phố mang tên Lê Văn Tám , trường học Lê Văn Tám...
Tuy nhiên , nếu nghiêm túc về nguồn để tìm kiếm sự kiện lịch sử có thể sẽ nảy sinh những thắc mắc : liệu Lê Văn Tám có phải là người thật việc thật , từng lập nên chiến công oanh liệt ? . Xin nêu bốn điểm thắc mắc :
- Qua tên gọi Lê Văn Tám , với tập quán đặt tên của người miền Nam , có thể suy ra Tám có sáu anh chị ruột lớn hơn ( không kể các em ) . Năm 1946 , Tám khoảng 10 tuổi như vậy phỏng đoán các anh chị của Tám hơn 10 tuổi đến hơn 20 tuổi . Qua 1975 ( tức 30 năm sau ) , anh chị của Tám khoảng chừng từ 40 đến 50 tuổi . Ở lứa tuổi này , rất nhiều khả năng trong số sáu anh , chị của Tám có người vẫn còn sống ( ngay cha mẹ của Tám cũng có thể còn sống với lứa tuổi từ 60-80 ) . Trước 1975 , có thể họ không dám nhận là anh chị của Tám , nhưng sau khi cách mạng thành công , tại sao không thấy ai đứng ra nhận vinh dự ( và cả quyền lợi ) cho gia đình ? . Nếu gia đình khiêm tốn không nhận công lao kháng chiến , các cơ quan chức năng cũng phải đi tìm . Ngành thương binh xã hội phải lập danh sách gia đình có công , ngành viết lịch sử phải tra cứu thân thế sự nghiệp .
Chẳng lẽ tất cả sáu anh chị của Tám đều đã chết yểu ở độ tuổi từ 20 đến 30 ? . Ngay cả trong trường hợp chuyện này xẩy ra , hẳn chú bác , cô dì của Lê Văn Tám thế nào cũng có người còn sống , vì Tám ở ngay vùng Thị Nghè chớ nào phải xa xôi , hẻo lánh gì ?
Để làm rõ hơn , đề nghị nên đăng thông báo trên truyền hình , phát thanh , báo chí , cả trung ương lẫn địa phương , tìm người thân của Lê Văn Tám .
- Chỉ nghe kể Lê Văn Tám là giao liên , nhưng không thấy nói cụ thể Tám là giao liên cho đơn vị nào . Phàm đã hoạt động cách mạng , thời chống Pháp cũng như chống Mỹ , dứt khoát phải hoạt động trực thuộc một đơn vị nào đó ( như Thành đoàn , Công đoàn , Binh vận , Biệt động thành , Trinh sát vũ trang , Địch vận , v...v..... ) , không ai có thể một mình một cõi , tự tung tự tác , muốn hoạt động ra sao cũng được , dù là tự thiêu , phá hủy kho đạn của địch .
Thực tiễn hoạt động cách mạng tại Sài Gòn cho thấy đến tình báo hoạt động cũng phải có tổ chức . Đơn vị của Tám không đứng ra báo công trường hợp người của đơn vị mình là thiếu sót lớn , không phải để hưởng tiếng thơm lây , mà là có tội che giấu thành tích của người làm nên lịch sử . Vậy đơn vị nào có chiến sĩ Tám , cần nhanh chóng làm các thủ tục này . Không lẽ cả đơn vị lớn nhỏ đều hy sinh hết ? . Nhiều trường hợp cả đơn vị hy sinh , vẫn có nhiều người biết do cuộc chiến tranh của chúng ta luôn được nhân dân nuôi dưỡng , bảo vệ giúp đỡ .
- Thông thường , theo nguyên tắc quân sự , kho đạn nào cũng được bảo vệ nghiêm ngặt . Đây là khu quân sự cấm người lạ mặt lai vãng , ngoài cổng luôn có lính gác " vũ trang đến tận răng " . Trong kho lại có nhiều nhà kho , mỗi nhà kho đều có cánh cửa luôn khóa chặt , đạn được bỏ trong thùng . Chỉ khi có người đến lãnh đạn hoặc quan hệ công tác , trình giấy tờ hợp lệ và đầy đủ , lính gác mới mở cổng cho vào . Tiếp đó , phải có lệnh của trưởng kho , thủ kho mới mở khóa , giao đạn .
Đằng này Lê Văn Tám chạy một hơi từ cổng đến tận nhà kho chẳng thấy lính tráng nào ngăn cản , cứ như xông vào chỗ không người , tất cả mọi cánh cổng , cánh cửa kho đều mở rộng như chờ đón sẵn !
- Giả sử Lê Văn Tám đã điều nghiên kỹ lưỡng , nắm được quy luật của địch , hoặc rơi vào trường hợp may mắn ngẫu nhiên , do lính gác cổng bị bất ngờ không kịp phản ứng và tất cả mọi tình huống đều thuận lợi cho Tám , thì một người bình thường tẩm xăng đốt mình cháy như cây đuốc sống cũng khó chạy bộ một quãng vài chục mét . Nhà kho , nhất là kho đạn , không phải nhà mặt tiền , chí ít cũng phải qua cổng gác rồi cách vài chục mét .
Hình tượng Lê Văn Tám được đưa lên như thế nào ? . Người sáng tác hình tượng này là đạo diễn phim truyện Phan Vũ .
Theo ông Phan Vũ kể , ông không hề viết rằng Lê Văn Tám là nhân vật có thực lập nên kỳ công " cây đuốc sống " , mà chỉ viết một phim truyện . Nhưng do các nhà tuyên truyền thời ấy thấy cần xây dựng một tấm gương dũng cảm hy sinh cứu nước , bèn chộp luôn sáng tác của ông , hiện thực hóa như một nhân vật có thật . Lỡ phóng lao đành theo lao luôn . Tại sao nhân vật được đặt tên là Lê Văn Tám ? . Vẫn theo tác giả Phan Vũ , khi ấy nhân Cách mạng tháng Tám , ông đặt luôn nhân vật của mình tên Tám , vừa có ý nghĩa , vừa dễ nhớ , vừa dân dã lại rất Nam Bộ gần gũi .
Thời chiến , có thể dùng mọi biện pháp , miễn hữu ích . Nay cũng cần trả lại sự thật cho các các sự kiện lịch sử .
Nguồn : Báo Thế giới (Hà Nội) số 39 (154) ngày 27/9/04 (trang 22-23)Quang Hùng
tags:posted 2011-08-13 in blog 108 views add comment - Qua tên gọi Lê Văn Tám , với tập quán đặt tên của người miền Nam , có thể suy ra Tám có sáu anh chị ruột lớn hơn ( không kể các em ) . Năm 1946 , Tám khoảng 10 tuổi như vậy phỏng đoán các anh chị của Tám hơn 10 tuổi đến hơn 20 tuổi . Qua 1975 ( tức 30 năm sau ) , anh chị của Tám khoảng chừng từ 40 đến 50 tuổi . Ở lứa tuổi này , rất nhiều khả năng trong số sáu anh , chị của Tám có người vẫn còn sống ( ngay cha mẹ của Tám cũng có thể còn sống với lứa tuổi từ 60-80 ) . Trước 1975 , có thể họ không dám nhận là anh chị của Tám , nhưng sau khi cách mạng thành công , tại sao không thấy ai đứng ra nhận vinh dự ( và cả quyền lợi ) cho gia đình ? . Nếu gia đình khiêm tốn không nhận công lao kháng chiến , các cơ quan chức năng cũng phải đi tìm . Ngành thương binh xã hội phải lập danh sách gia đình có công , ngành viết lịch sử phải tra cứu thân thế sự nghiệp .
-
Tap Ghi: Thang 5, nho nhung linh hon uong tu
Những ngày bị tập trung ra vùng Việt Bắc, trong thời gian đi “lao động” qua những xóm làng, tôi có dịp dừng lại đôi phút nơi các ngôi nhà của dân. Trong làng trừ những nhà kho hay chuồng heo của hợp tác xã nông nghiệp được xây bằng gạch, còn lại những ngôi nhà của dân, chỗ ăn chỗ ngủ, nhà bếp đều đều nghèo nàn, rách nát. Chỗ duy nhất trong gian nhà gợi sự chú ý của chúng tôi nhất là bàn thờ ngay giữa gian nhà, nơi có màu sắc đỏ chóe, tương phản với màu xám xịt của vách đất, mái rạ. Trên bàn thờ không có bát nhang hay chân đèn mà chỉ có một bức ảnh “bác” đã - vàng trong chiếc khung gỗ, chung quanh là những bằng liệt sĩ màu đỏ, hoặc được đóng khung, hoặc được treo trang trọng trên vách. Ít có nhà nào vắng bằng liệt sĩ, sự đóng góp xương máu cho công cuộc “giải phóng miền Nam”, sự an ủi cho đời sống nghèo đói, tăm tối, vô vọng.

Từ sau hiệp định Geneve, Bắc Việt đã chuẩn bị tiến hành cuộc chiến thôn tính miền Nam, bằng cách gài lại một số cán bộ cao cấp trong các thành phần chính quyền, tôn giáo và đảng phái của miền Nam. Ðối với những binh sĩ và cán bộ tập kết ra Bắc dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Quốc Tế Ðình Chiến, thì họ được chỉ thị kết hôn, cố gắng để lại những bào thai, là sợi dây liên lạc cho một ngày nào đó họ trở lại để “giải phóng” miền Nam. Sau đó, quân đội miền Bắc được huy động xâm nhập vào miền Nam trong một cuộc chiến “trường kỳ”. Theo nguồn tin AFP, con số báo cáo của chính phủ Cộng Sản đưa ra lần đầu tiên, vào ngày 5 Tháng Năm năm 1995, trong 21 năm phát động cuộc chiến tranh, quân đội Cộng Sản miền Bắc đã tổn thất 1,1 triệu người và có 600,000 bộ đội bị thương. Theo một nguồn tin khác về phía Hoa Kỳ, quân đội VNCH mất 220,000 người và con số bị thương là 1 triệu 170 nghìn người. Xin chú ý đến con số bị thương của Miền Bắc chỉ bằng hơn 1/2 số người chết, trong khi miền Nam số người bị thương cao gấp 5 lần số người chết. Con số này cho chúng ta thấy, “bộ đội” Cộng Sản rất ít thương binh. Một phần Việt Cộng xâm nhập miền Nam xa hậu phương, một mặt phát triển chiến thuật du kích, Việt Cộng không có phương tiện và thời gian đem thương binh về mật khu hay những vùng an toàn. Thương binh không tự di chuyển được có thể đã bị “xử lý” ngay tại chỗ, vì việc di chuyển, bôn tập khó khăn cũng như không muốn thương binh lọt vào tay quân đội VNCH để có thể tiết lộ những tin tình báo nguy hiểm cho họ.
Khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam” không cho miền Bắc có được hình ảnh “ngày trở về anh bước lê trên quãng đường đê” nữa, mà tất cả đều đã nằm lại mặt trận với cái chết bằng cách này hay cách khác, có khi một vài năm sau, gia đình mới nhận được tin báo tử cùng với cái bằng liệt sĩ dùng để trang trí trên bàn thờ. Sau chiến tranh, Cộng Sản Việt Nam muốn xoa dịu nỗi đau của những gia đình đã đi theo tiếng gọi của chủ nghĩa, bỏ mình trên chiến trường, đã tốn phí xây dựng nhiều “nghĩa trang liệt sĩ” cùng khắp, quận huyện, làng xã. Các nghĩa trang này xây dựng rất quy mô, có diện tích lớn rộng, với tháp cao, tường gạch vây bọc, ở trong san sát các mộ phần xây bằng xi măng, trang trí lòe loẹt và phần lớn có chủ ý xây dựng ở hai bên quốc lộ để người qua đường hay khách du lịch phải chú ý đến chính sách “tổ quốc ghi công” những anh hùng đã chết và để cho đảng khỏi mang tiếng vong ân bội nghĩa.
Nhưng với một quân đội không có thương binh thì liệu với những người chết trận, xương cốt của họ còn đâu để mang về chôn cất trong những khu đất trang trọng, tốn phí này, nếu không là xương trâu xương bò thì cũng với những chiếc quan đầy đất cát với những tấm bia mộ mang hai chữ Vô Danh.

Một người bạn trẻ về thăm Việt Nam đã cho tôi biết cảm tưởng khi anh vào thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, dù trong khung cảnh hoang phế vẫn có một điều gì đó thiêng liêng bao trùm mà anh tự cảm nhận được, vì dưới vùng đất kia, còn có những nắm xương tàn của những người lính miền Nam, trái lại nơi những “nghĩa trang liệt sĩ” hình như vôi gạch xếp hàng ngang hàng dọc vô hồn giả dối, không nói lên được một điều gì cả.
Trong những vùng đất miền Bắc, không có nhà nào là không có mất mát, nhưng không có nhà nào có được nấm mồ để thăm viếng, có một bát nhang để thờ cúng. Một triệu thanh niên miền Bắc đã phơi xác trên đường Trường Sơn, trong những địa đạo, hầm hố, cánh rừng với lý tưởng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Chiến thắng toàn vẹn vào ngày 30 Tháng Tư 1975 có an ủi được linh hồn những thanh niên miền Bắc đã nằm xuống, có làm cho gia đình họ nghĩ rằng cái chết của con cái họ đã được đền bù và sự hy sinh, mất mát ấy có ý nghĩa gì cho đất nước không? Khi cánh cửa miền Nam được mở rộng cho người miền Bắc được chiêm ngưỡng cuộc sống ở đây, họ thấy miền đất này không có gì cần phải giải phóng. Và họ cũng nhận thấy rằng, không phải trong những ngày cuối Tháng Tư 1975, trong cơn hốt hoảng mà người miền Nam phải bỏ nước ra đi. Làm sao giải thích được với quần chúng, là đúng mười ba năm sau (Tháng Năm 1988), khi chế độ Hà Nội đã “đem no ấm, tự do, độc lập cho nhân dân”, người ta lại phải chen chúc nhau trên một con tàu mỏng manh để chạy thoát chế độ Cộng Sản như tấn thảm kịch Bolinao với 110 người trên tàu chỉ còn sống sót 52 người.
Chúng ta hãy nghe, không phải là những người bỏ nước ra đi từ năm 75, lên án Cộng Sản mà là những người đã theo Cộng Sản. Ông Trương Như Tảng đã nói: “Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng Cộng Sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới”. Kết luận của ông về tình hình hiện nay tại Việt Nam là: “Gia đình ly tán, đạo đức suy đồi, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”. (A Vietcong Memoire- Vintage Books -1986)
Nói những lời cay đắng, một người miền Nam đã theo Cộng Sản, ông Nguyễn Văn Tăng, người đã bị Pháp bỏ tù 15 năm, thời ông Diệm 8 năm, thời ông Thiệu 6 năm, rồi ở tù sau năm 1975: “Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ ước trở lại nhà tù của Pháp 30 năm về trước” (Ðoàn Văn Toại-1986). Ðau đớn và mỉa mai tột cùng.
Nhân ngày 30 Tháng Tư chúng ta xót xa ngậm ngùi vì chuyện mất miền Nam, nhưng hơn một triệu thanh niên miền Bắc đã chết vô ích trong cuộc chiến dài 21 năm để có một đất nước Việt Nam như ngày hôm nay.
Huy Phương
tags: panwenhuiposted 2009-05-20 in blog 236 views add comment -
Nguoi chien si VNCH ngay cuoi cung cua cuoc chien
Vào ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi mà mọi giới đều hiểu rằng không còn gì có thể cứu vãn được nữa thì người chiến sĩ VNCH vẫn chiến đấu dũng cảm. Một vài tài liệu sau đây cho chúng ta khẳng định như thế:

1/ Tài liệu của Không Lực Hoa Kỳ - chương trình di tản "Frequent Wind" có viết rằng: Trong khi phi trường bị tấn công thì 2 chiếc Al (Skyraider chiến đấu có cánh quạt của Không lực VNCH) đã bay lượn trên không phận Saigon để truy lùng các vị trí pháo kích của địch. Một trong hai chiếc bị hỏa tiễn SA-7 bắn hạ. Trong khi đó, nhiều người đã không e sợ, đổ xô ra ngoài để nhìn một chiếc phi cơ "Rồng lửa" AC-119 đang nhào lộn và xả súng (đại liên 6 nồng Gatling) bắn một vị trí của bộ đội Bắc Việt ở ngay gần cuối hướng đông Tân Sơn Nhất. Vào khoảng 7 giờ sáng 29/4, chiếc phi cơ anh dũng của VNCH đã bị trúng hỏa tiễn SA-7 của địch và bốc cháy rồi đâm nhào xuống mặt đất.
Trong một bức thư của một phi công VNCH gửi cho Clyde Bay ở Trung Tâm Di Tản Nha Trang, kể lại chuyện những phi công của Không Lực VNCH vào sáng ngày 29 tháng 4, vẫn tiếp tục thực hiện các phi vụ tấn công vào các đoàn xe tăng địch, khi chúng tiến về phía thủ đô Saigon. Theo lời của Trung Úy Coleman "ít nhất những người này đã là những chiến sĩ đã chiến đấu một cách anh dũng và hi sinh đến giọt máu cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, trong một trận chiến biết chắc là thua, nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh".
2/ Tài liệu trích trong cuốn Việt Nam và Chiến Lược Domino của Bạch Long (từ trang 312 đến 314) Nhưng sự bất ngờ cho Cộng Sản đã xảy ra ngay tại cửa ngõ vào Saigon. Khoảng gần một ngàn chiến sĩ của Chiến đoàn 3 Biệt Kích Dù và một số biệt kích, Nhảy Dù và quân nhân khác, có nhiệm vụ bảo vệ bộ Tổng Tham Mưu từ ngày 26 tháng 4, đã sẵn sàng chờ "đón" quân Cộng Sản. Trong ngày 29 tháng 4, tướng Lâm Văn Phát đã có can đảm đứng ra nhận chức tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô với mục đích cầm quân chiến đấu bảo vệ Saigon. Tướng Phát đã ra lệnh cho các cánh quân Nhảy dù, Biệt Cách, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến... phải ngăn chận quân Cộng Sản kéo vào Saigon từ hai ngả tư Bảy Hiền và Hàng Xanh... Tướng Phát kể lại rằng ông chỉ còn vỏn vẹn 60 xe tăng M-41 và M-48 với những đơn vị lẻ tẻ để đối đầu với 16 sư đoàn Bắc Việt và 3 sư đoàn Việt Cộng với hàng ngàn xe tăng, đại pháo và tấn công từ hai ngả vào Saigon. Nhưng dù ở trong tình thế tuyệt vọng như vậy, tướng Phát và những người đầu hàng. Họ vẫn phải chiến đấu đến cùng! (Cần phải nói rằng các đơn vị lớn Thủy Quân Lục Chiến cực kỳ anh dũng và đã bị tan rã gần hết trước ngày 30 tháng, ở vùng Một và vùng Hai, và trong những trận rút bỏ khác.) Những người lính chiến đấu này không có...radio! Họ không cần biết rằng quân Cộng Sản đang thắng thế. Họ không cần biết tổng thống tạm thời Dương Văn Minh đang sửa soạn đầu hàng, dâng miền Nam cho Cộng Sản. Họ không cần biết rằng tình hình đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một chút hi vọng ngăn chân quân đội Bắc Việt. Họ chỉ biết chiến đấu chống Cộng và tiêu diệt quân Cộng sản, và hình như họ chưa bao giờ có tư tưởng bỏ chạy hay đầu hàng! Họ hờm súng đợi quân thù Cộng Sản và sẵn sàng nhả đạn. Các xe tăng Cộng Sản hứng những loạt đạn đầu tiên và bất ngờ. Trong thành phố đang hỗn loạn tinh thần, tiếng đạn nổ như mưa bão xen lẫn với tiếng súng lớn, đã làm cho sự hỗn loạn gia tăng. Trong thời gian thật ngắn khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, 17 xe tăng Cộng sản bị trúng đạn cháy đen nằm rải rác từ Ngả tư Bảy Hiền đến cổng trại Phi Long và đến đường Cách Mạng... Pháo tháp xe tăng T-55 bằng thép dầy 12inches (30 phân tây) bị bắn thủng như bằng...bột, chứ không phải bằng thép! Lỗ đạn không lớn lắm. Hình như vào giờ chót người Mỹ viện trợ cho một loại súng bắn xe tăng đặc biệt, loại 106 ly (?), để bắn xe tăng. Đạn xuyên phá qua thép dầy nhất và lực cản của thép đã làm cho nhiệt độ gia tăng tới gần 3000 độ C, nướng chín quân lính Cộng Sản ở trong xe tăng.
Cánh quân Cộng Sản từ Long Khánh kéo về Saigon qua Hàng Xanh, Thị Nghè bọc xuống trước Sở Thú để tiến vào dinh Độc Lập thì bị quân Nhẩy Dù án ngữ. Quân Nhẩy Dù bị dồn về bảo vệ vòng đai Saigon. Họ không còn việc gì khác hơn là chiến đấu đến cùng từ đường vòng đai xa lộ Đại Hàn đến ngã tư Hàng Sanh về đến đại lộ Thống Nhất, nhà thờ Đức Bà. Hầu như những cánh quân Cộng Sản đầu tiên tiến vào Saigon theo ngả này đều bị Nhảy Dù tiêu tiệt hết. Tổng cộng trong khoảng từ 7 giờ sáng đến 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, hơn 20,000 quân Bắc Việt, 32 xe tăng và gần 30 quân xa (Molotova) chở đầy lính Cộng Sản bị bắn cháy, chết hết, trong phạm vi thành phố Saigon. Tất cả hai cánh quân Việt cộng đều khựng lại.
Bộ chỉ huy Cộng Sản cuống cuồng vội giục Dương Văn Minh phải đích thân ra lệnh cho tướng Lâm Văn Phát, thiếu tá Tài để ra lệnh cho Biệt Cách Dù và quân Nhảy Dù ngưng chiến đấu. Tất cả những người lính chiến đấu can trường nhất của VNCH lúc đó mới hiểu rằng miền Nam đã bị kẹt vào cái thế phải thua. Họ ném bỏ súng đạn trút bỏ quần áo trận và lẫn lộn vào dân chúng, tìm đường về nhà.
Một câu chuyện khác do tướng Lâm Văn Phát kể lại là sau khi Dương Văn Minh điện thoại cho ông phải ra lệnh ngưng bắn thì ông xuống dưới nhà. Dưới chân cầu thang, một người Quân Cảnh đã đứng nghiêm chào ông và nói: "Vĩnh biệt thiếu tướng", rồi rút súng bắn vào đầu tự tử. Khi vị tư lệnh cuối cùng của Biệt Khu Thủ Đô đến Tổng Tham Mưu thì thấy chung quanh cột cờ lớn có khoảng hơn 300 binh sĩ Biệt Cách và sĩ quan chỉ huy họ đang đứng thành vòng tròn và hờm súng vào... lưng nhau, sẵn sàng nhả đạn tự tử tập thể. Tướng Phát phải nói với họ trong nước mắt rằng quân đội VNCH đứng vững cho đến giờ chót là nhờ tinh thần kỷ luật. Vậy lúc này đã có lệnh buông súng thì anh em ai về nhà nấy mà lo cho gia đình. Tự tử không có ích lợi gì cho mình cả. Các quân nhân nghe lời, chỉ có một vài sĩ quan trẻ tuổi đã tự tử. Đến 1 giờ trưa, tướng Phát bàn giao Biệt Khu Thủ Đô cho tướng Việt Cộng Ba Hồng. Sau đó tướng Ba Hồng mời tướng Phát đến Tổng Tham Mưu. Tại đây, khoảng 500 chiến xa T. 55 của Cộng quân nằm kín chung quanh cột cờ. Đáng lẽ những chiến xa này đã đi thẳng sang Tây Ninh theo đườngvòng đai Saigon. Nhưng sự đầu hàng của Dương Văn Minh đã thay đổi hết kế hoạch tiến đánh Thái Lan của Cộng Sản (tướng Lâm Văn Phát đã từ trần trong tuổi già tại Santa Ana, California ngày 30 tháng 10, 1998)
Nhưng hai trận đánh trên đây cũng chưa phải là trận đánh cuối cùng trong ngày 30 tháng 4. Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu đã chiến đấu mãnh liệt từ trong khuôn viên trường cho đến khoảng 2 giờ trưa. Lúc này, Cộng Sản đã cầm chắc cái thắng trong tay nên chúng không muốn chết thêm nữa. Chúng ngưng bắn và điều đình với các em. Các em đòi chúng phải ngưng bắn và rút ra xa để các em tự giải tán. Khoảng ba giờ chiều, các em hát bài quốc ca, làm lễ hạ cờ. Xong rồi bỏ đồng phục, mặc quần áo thường và từ từ ra khỏi trại, nước mắt ràn rụa trên má...

3/ Tài liệu: báo Wall Street Journal số ngày 2 tháng 5 năm 1975, bài bình luận của ký giả Peter Kahn, từng đoạt giải Pulitzer, có tựa đề "Truy Điệu Nam Việt Nam" "...Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm, và họ đã không phải luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ ít có xã hội nào bền bỉ chịu đựng được một cuộc chiến đấu lâu dài như vậy... Quân lực VNCH đã chiến đấu can đảm và vững mạnh trong một số trận đánh mà chúng ta còn nhớ, thí dụ như trận An Lộc. Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi và can đảm ở nhiều trận đánh khác mà chúng ta không còn nhớ địa danh. Quân lực ấy đã can đảm và chiến đấu trong hàng ngàn trận đánh nhỏ, và giữ vững hàng ngàn tiền đồn hẻo lánh ở những nơi mà cái tên nghe rất xa lạ với người Mỹ. Hàng trăm ngàn người của quân lực ấy đã tử trận. Hơn nửa triệu người của quân lực ấy đã bị thương. Và trong những tuần lễ chót, khi mà người Mỹ nào cũng biết là cuộc chiến đấu đã thua rồi thì vẫn còn những đơn vị của quân lực ấy tiếp tục chiến đấu, thí dụ tại Xuân Lộc. Nhờ có những sự chiến đấu ấy mà người Mỹ và một số người Việt lựa chọn mới an toàn thoát đi được. Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của người ta. Phía mạnh hơn chưa chắc đã là phía tốt hơn"
4/ Tài liệu của ký giả người Pháp Jean Larteguy, đã chứng kiến những giờ phút cuối cùng ở Saigon ngày 29 và 30 tháng 4-75. Thứ Hai 28/4/75 Saigon sáng nay yên tĩnh. Các đơn vị của một lữ đoàn Dù chiếm đóng vị trí của họ trong thành phố, sau bức tường, trong những khu vườn. Họ không buồn rầu và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một một thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau và liệng cho nhau những chai Coca Cola. Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu này. Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon. "Và những binh sĩ tuyệt vời này vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ. Một trong các cấp ấy là một đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra sao? Ông trả lời: "Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người lính cuối cùng chiến đấu. Hãy nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh" .
Sau khi Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Larteguy lại được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị VNCH tại Saigon, và ghi lại như sau: "Gần Lăng Cha Cả, quân Dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ dinh Tổng Thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan này khuyên họ nên ngưng chiến đấu. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T-54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe. Quân Dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết." Larteguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địa. "...Và trong những bộ đồng phục mới, giầy chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Họ ra đi thật hào hùng, đi như diễn binh, chỉ thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng."
Một đồng nghiệp của Larteguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan: "Các anh có biết là sắp bị giết chết không?" Một thiếu úy trả lời: "Chúng tôi biết chứ!" Vì sao? - Tại vì chúng tôi không chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản! "...Các xe tăng đầu tiên của Cộng Sản vào Saigon từ phía đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòa...
Bộ binh thì tiến từ phía Bến Cát và Tây Ninh. Tuy vậy, bọn này chỉ tới được trung tâm Saigon vào lúc 5 giờ chiều. Từ ngày hôm trước các đơn vị cộng quân này đã bị chận tại gần Hóc Môn, gần nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù do Lữ Đoàn 4 của Sư Đoàn Dù trấn giữ dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị Cộng quân bị thiệt hại nhiều. Sau đó chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Saigon. Một lần trước trụ sở Cảnh sát Công Lộ, nơi đây chừng 100 cảnh sát viên chiến đấu oanh liệt trong hơn một giờ, trước khi bị xe tăng Cộng Sản đề bẹp. Lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính Dù võ trang đại liên và Bazzoka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ một tràng lựu đạn tự sát. "Đến chiều tối 400 chiến sĩ Mũ Đỏ (Dù) được gom từ trận Hốc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính và các nơi có ruộng lúa của tỉnh Chợ Lớn. Đến 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đem để rút về đồng bằng..." Darcourt cho biết đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát.
Nguyên Huy
tags: panwenhuiposted 2009-05-16 in blog 2010 views add comment -
Tinh ua cai co , chui boi cua nguoi VIET
Nếu chúng ta vô ý đi bộ đụng phải người Mỹ, người ta không cần chúng ta xin lỗi, họ xin lỗi trước: "I am sorry", sự việc coi như được giải quyết một cách lịch sự, nhẹ nhàng. Nhưng nếu chẳng may đụng phải người Việt, sẽ có một cuộc cãi cọ kéo dài không biết bao lâu. Đôi khi hai người đi xe đạp đụng vào nhau, xe không hư, người không hề hấn gì nhưng lại kẻ bể đầu người sứt tai sau một hồi gây lộn. Đứa con khóc thay vì dỗ cho nó nín, chồng trách vợ, vợ trách chồng thành ra cãi nhau. Từ chuyện nhỏ nhặt ấy hai người lôi những chuyện từ ngày xửa ngày xưa ra kể, ra trách, phân trần hàng tiếng đồng hồ mới chấm dứt.
Đó là chuyện nhỏ, những việc lớn hơn người ta bỏ ra cả ngày cả buổi, có khi cả tháng để chửi bới mắng nhiếc đi đến thù hận nhau suốt đời. Chúng ta sống bằng tình cảm quá nhiều, quá nặng chủ quan nên sự phân biệt phải trái không rõ ràng, hễ người nào nói nhiều, chửi, mắng nhiều, nói được nhiều lời cay độc được coi là người giỏi, người thắng. Thắng không căn cứ trên sự đúng, sai làm người ta không cần lý lẽ, cứ nói bừa, nói ngang, nói thế nào cũng được. Do đó tục ngữ có câu: "Một người nói ngang cả làng không lại." Xa hơn nữa, có khi đem nhau ra trước cửa quan vì một chuyện không đâu.
Sống ở ngoại quốc, chúng ta thấy người ta đối xử với nhau lịch sự, rộng lượng và khôn ngoan hơn chúng ta. Lỡ va chạm nhau, cả hai bên cùng nói "sorry" (xin lỗi), việc không đáng gì vả lại đó là sự sơ suất; trong cơ quan nếu chúng ta vô ý làm hư hỏng đồ vật hay làm sai, người ta nói "don't worry" (đừng bận tâm) rồi người ta phụ với mình sửa chữa hay chỉ bảo điều sai sót vì việc đã xảy ra rồi có mắng mỏ hay cằn nhằn cũng không lại được, chỉ thêm mất thì giờ và làm buồn người khác.
Hàng xóm có điều không vừa lòng, người ta bán nhà đi ở chỗ khác, cãi nhau mất thì giờ và thêm bực mình. Tôi biết một gia đình người Việt sang đây (Mỹ) nhưng quen lối sống ở Việt Nam, không biết tôn trọng hàng xóm, mở băng Video và DVD cho phát ra hai cái loa cả ngàn oát (watt) bất kể ngày đêm làm cho cái nhà sát bên cạnh 1 năm đổi chủ ba, bốn lần. Trường hợp này ở bên nhà chắc chắn sẽ chửi bới nhau, có khi thưa kiện hay đánh đấm nhau nữa không chừng.
Vấn đề chửi bới của người Việt, đã có nhiều người nói tới như nhà văn Nguyễn công Hoan hay học giả Lê văn Siêu. Mới đây đồng tác giả Nguyễn thị Tuyết Ngân và Trần ngọc Thêm trong bài "Người Việt Chửi" đăng trên tờ báo Pháp Luật ở Sài Gòn số Xuân Canh Thìn 2000 và đăng lại trong cuốn "Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá VN" cho rằng lối chửi của Việt Nam đã bước vào hàng "nghệ thuật" và góp phần làm kho tàng văn hóa VN cổ truyền thêm phong phú (Trần ngọc Thêm TVBSVHVN trang 293, Nhà xuất bản Tổng Hợp TPHCM in lần thứ 4).
Dù đứng ở phía nào hay qua góc độ nào thì chửi bới không thể xếp vào hàng nghệ thuật vì nghệ thuật luôn luôn hướng về cái Thật, cái Tốt, cái Đẹp (Chân - Thiện - Mỹ). Chửi bới là dùng những lời nói cay độc để nguyền rủa, trù ẻo, mạt sát người khác sao gọi là tốt, đẹp được? Chửi bới là qua lời nói muốn đào mồ cuốc mả nhà người ta, bắt ông bà tổ tiên nhà người ta ăn những thứ dơ dáy, ô uế. Muốn băm vằm, xé nát người ta mà nói rằng góp phần làm phong phú nền văn hóa cổ truyền trong khi Văn Hóa mang tính Nhân Bản: thân ái, độ lưọng, khoan dung, hòa hợp.
Tóm lại chửi bới là hành động xấu, vô văn hóa đã có từ lâu (nay đã giảm rất nhiều) nên qua thời gian được gọt rũa thành bài bản, có vần điệu, nhịp nhàng đối xứng. Các dân tộc khác không có lối chửi tàn tệ, thâm độc, dằn vặt (người ta chửi nặng nhất là "đồ con vật (heo, bò, ngựa) hay đồ què, mù, thối tha...") và cũng không chửi hết ngày này sang ngày khác như chúng ta.
Quê tôi bên bờ sông Hồng, phía trong đê là đồng cấy lúa, ngoài đê gần bờ sông là trang trại hàng năm vào khoảng tháng 6, tháng 7 âm lịch nước lụt dâng lên, mỗi nhà ở trên nền đất đắp cao trông như một hòn đảo. Tôi nhớ hồi còn bé có hai bà hàng xóm mới làm thông gia với nhau được ít lâu đã xảy ra xích mích vì bà bênh con bà, tôi bênh con tôi (vợ chồng trẻ nào mà không có trách móc, cãi cọ vặt). Lúc đầu chỉ trao đổi qua những tiếng bóng gió của bà mẹ vợ sau biến thành chửi nhau công khai. Hai nhà ở cách nhau qua một khu vườn độ 50 mét (150 feet) đang bị nước lụt dâng cao làm giới tuyến ngăn cách, mỗi bà ở một bên chửi chõ sang nhà nhau mấy ngày mới dứt. Giờ ăn, giờ ngủ là những cuộc tạm đình chiến:
- Bà chửi mày bẩn cả miệng, để bà xúc miệng xong bà sẽ đào mồ, đào mả nhà mày lên.
- Quân chết tiệt, đói thì về nốc đi, lấy sức mà nghe tao lôi ông bà, ông vải nhà mày ra tao dạy.
Những lời chửi bới thô lỗ, cay độc nhưng lại có vần, có điệu. Đại khái:
- Mả cha mày dưới đất
Tao hất lên trời
Tao phơi ngoài lộ
Cho quạ nó mổ
Cho chó nó tha
Cho ông đi qua
Cho bà đi lại
Vén đá...ị...lên đầu
Nhục ơi...là nhục.
Bà kia không kém:
- Thứ quân chua ngoa
Thằng cha mày dại
Tứ đại mày ngu
Tao kẹp vào khu
Tao kẹp vào háng
Tao đánh, tao mắng
Mặt cứ trơ trơ...
Chúng ta vốn kính trọng tổ tiên không hiểu sao người ta cứ thích đem ông bà nhau ra chửi. Mình không trọng Ông bà, cha mẹ người thì người không trọng ông bà, cha mẹ mình.
Sau đây là "bài chửi" mất trộm gà do học giả Lê văn Siêu ghi lại kèm theo lời bình luận:
"- A...con gà của tao nó ở nhà tao thì nó là con gà, nó vào nhà mày thì nó thành con cú, con cáo, thành thần nanh đỏ mỏ nó mổ vào đầu nhà mày. Mày trả con gà của tao thì thôi, mày ăn con gà của tao thì mày xưng cổ nổ hầu, mày chết trẻ đẻ ngược. Mày đi sông đắm đò, mày đi đường chết chợ. Tao chửi cho đến ông tam đại nhà mày trở xuống, cho đến mục mả nhà mày ra mới thôi..." (Lê văn Siêu, Văn Minh VN trang 224).
Sau đây là lời bình của nhà học giả: "Chửi cho đến đầu rau phải múa, chúa đất phải cười. Chửi cứ như là hát hay. Chửi sôi lên sùng sục, đục lên lờ lờ. Chửi mà thành vần, thành điệu lên bổng xuống trầm" (Lê văn Siêu, VMVN trang 225 ).
Việc chửi bới trên gần như mai một nhưng việc hay cãi cọ vẫn tồn tại ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Chúng ta hay chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt và không có tinh thần bao dung.
© 2009 Đàn Chim Việt
tags: panwenhuiposted 2009-05-13 in blog 301 views add comment


